|
2. CƠ CẤU TỔ CHỨC, ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
2.1. Ban chủ nhiệm khoa:
|
Trưởng khoa
PGS.TS Nguyễn Viết Tý Phụ trách chung và chịu trách nhiệm chính: Công tác tổ chức, nhân sự và học tập, bồi dưỡng cán bộ của khoa; công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch giảng dạy các hệ chính quy, tại chức do Khoa đảm nhiệm; công tác nghiên cứu khoa học của khoa; công tác tổ chức thực tập của khoa
|
Phó trưởng khoa
TS. Vũ Thu HạnhChịu trách nhiệm chính: Công tác tài chính và quản lý tài sản của Khoa; công tác tổ chức thi và chấm thi; công tác quản lý sinh viên; quản lý các thông tin về khoa trên website của trường; công tác đào tạo ngắn hạn do khoa đảm nhiệm, công tác quản lý theo ISO của khoa |
2.2. Hội đồng khoa học của Khoa
* Thành viên của Hội đồng:
|
STT
|
HỌ VÀ TÊN
|
CHỨC TRÁCH
|
HỌC HÀM, HỌC VỊ
|
CHỨC VỤ
|
|
1
|
Nguyễn Viết Tý
|
Chủ tịch HĐ
|
PGS, TS
|
Chủ nhiệm khoa
|
|
2
|
Vũ Thu Hạnh
|
Phó CT HĐ
|
GVC, TS
|
Phó CN khoa
|
|
3
|
Đào Thị Hằng
|
Thành viên
|
PGS, TS
|
|
|
4
|
Bùi Ngọc Cường
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
|
|
5
|
Nguyễn Thị Dung
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
Trưởng Bộ môn
|
|
7
|
Nguyễn Quang Tuyến
|
Thành viên
|
PGS, TS
|
Trưởng Bộ môn
|
|
8
|
Phạm Thị Giang Thu
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
Trưởng Bộ môn
|
|
9
|
Nguyễn Hữu Chí
|
Thành viên
|
PGS, TS
|
Trưởng Bộ môn
|
|
10
|
Trần Thị Thuý Lâm
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
Phó Bộ môn
|
|
11
|
Nguyễn Văn Phương
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
Trưởng Bộ môn
|
|
12
|
Vũ Duyên Thủy
|
Thành viên
|
GV, TS
|
Phó Bộ môn
|
|
13
|
Nguyễn Thị Vân Anh
|
Thành viên
|
GVC, TS
|
GĐ Trung tâm
|
* Chức năng, nhiệm vụ:
- Chức năng: Tư vấn cho Ban chủ nhiệm khoa về các hoạt động khoa học nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của Khoa Pháp luật Kinh tế;
- Nhiệm vụ:
+ Tham mưu xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học, phát triển khoa học của Khoa;
+Đóng góp cho chiến lược, kế hoạch hoạt động khoa học của trường;
+Thảo luận các nội dung khoa học thuộc các dự án khoa học, đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường (cơ sở), cấp Khoa do Khoa thực hiện;
+Thảo luận về việc xây dựng các môn học, các chuyên đề đưa vào giảng dạy các hệ thuộc các lĩnh vực chuyên môn của Khoa;
+Thẩm định các giáo trình, tài liệu khoa học do giáo viên, nhà khoa học thuộc Khoa làm chủ biên;
+Cho ý kiến về các vấn đề khoa học theo sáng kiến của các thành viên và các nhà khoa học mà Hội đồng thấy việc đó là cần thiết;
+Các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Hội đồng yêu cầu.
2.3. Đội ngũ cán bộ, giảng viên
Tổng số cán bộ, giáo viên: 48 người (04 phó giáo sư; 15 tiến sỹ; 18 thạc sỹ trong đó có 07 nghiên cứu sinh; 11 cử nhân trong có 8 học viên cao học)
- 04 phó giáo sư:
1. PGS.TS. Nguyễn Viết Tý
2. PGS.TS. Đào Thị Hằng
3. PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí
4. PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến
- 15 tiến sỹ, gồm:
1. TS. Nguyễn Thị Vân Anh
2. TS. Bùi Ngọc Cường
3. TS. Nguyễn Thị Dung (Luật Thương mại)
4. TS. Nguyễn Thị Dung (Luật Đất đai)
5. TS. Vũ Thu Hạnh
6. TS. Trần Thị Thuý Lâm
7. TS. Nguyễn Thị Nga
8. TS. Nguyễn Văn Phương
9. TS. Nguyễn Hiền Phương
10. TS. Phạm Thị Giang Thu
11. TS. Vũ Thị Duyên Thuỷ
12. TS. Lưu Ngọc Tố Tâm
13. TS. Nguyễn Minh Hằng
14. TS. Hoàng Thị Minh
15. TS. Nguyễn Thị Yến
- 18 thạc sỹ, gồm:
1. ThS. Trần Bảo Ánh (NCS)
2. ThS. Trần Quỳnh Anh
3. ThS. Hoàng Minh Chiến
4. ThS. Nguyễn Như Chính
5. ThS. Đỗ Thị Dung (NCS)
6. ThS. Vũ Phương Đông (NCS)
7. ThS. Lê Hương Giang
8. ThS. Trần Vũ Hải (NCS)
9. ThS. Lê Thị Lợi
10. ThS. Nguyễn Đức Ngọc
11. ThS. Nguyễn Thị Hồng Nhung (NCS)
12. ThS. Nguyễn Ngọc Quyên
13. ThS. Đặng Hoàng Sơn
14. ThS. Phạm Nguyệt Thảo
15. ThS. Phạm Thu Thuỷ (NCS)
16. ThS. Nguyễn Quý Trọng (NCS)
17. ThS. Đỗ Xuân Trọng
18. ThS. Nguyễn Thị Thanh Tú
19. ThS. Nguyễn Hải Yến
- 11 cử nhân, gồm:
1. GV. Lê Ngọc Anh (HVCH)
2. GV. Nguyễn Ngọc Anh (HVCH)
3. GV. Nguyễn Thị Hằng (HVCH)
4. GV. Hoàng Khải Lĩnh
5. GV. Nguyễn Hồng Nhung (HVCH)
6. GV. Vũ Thị Hòa Như (HVCH)
7. GV. Hà Thị Hoa Phượng (HVCH)
8. CN. Hoàng Minh Thái (HVCH)
9. GV. Phạm Phương Thảo (HVCH)
10. CV. Trần Thị Chính
11. CV. Nguyễn Thị Minh Hà2.
4. Bộ môn, trung tâm trực thuộc khoaBộ môn Luật Thương mạiPhòng 104/K4 - 04.37731469
|
Trưởng bộ môn:
TS. Nguyễn Thị Dung
|
|
Bộ môn Luật Thương mại được thành lập từ năm 1979, với tên gọi đầu tiên là Bộ môn Luật Kinh tế. Năm 2003, được đổi tên thành Bộ môn Luật thương mạiBộ môn hiện có 13 giảng viên, trong đó có 01 Phó giáo sư, tiến sỹ, giảng viên chính; 04 tiến sỹ (03 giảng viên chính); 07 thạc sỹ (04 nghiên cứu sinh); 04 cử nhân, học viên cao học. Bộ môn còn thường xuyên mời 05 giảng viên (04 tiến sỹ) từ các cơ quan, đơn vị trong và ngoài trường.
Bộ môn đang đảm nhiệm các môn học:
- Luật Thương mại (môn học bắt buộc, 6 tín chỉ): là môn khoa học pháp lý chuyên ngành, được xây dựng với các mục tiêu, bao gồm: một là, giới thiệu kiến thức cơ bản về pháp luật thương mại; hai là, tạo ra nền tảng cho việc nghiên cứu chuyên sâu các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến thương mại; ba là, cung cấp các vấn đề pháp lý cần thiết khác đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quản trị kinh doanh.
Với môn học Luật Thương mại, người học sẽ được tiếp cận với một khối lượng kiến thức pháp luật thương mại đầy đủ, trải dài từ các quy định pháp luật về hình thành tư cách thương nhân, hoạt động thương mại cụ thể của thương nhân, tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại cho đến các quy định pháp luật về việc kết thúc sự tồn tại của một thương nhân như giải thể và phá sản.
Hoàn tất môn học Luật Thương mại, sinh viên được công nhận hoàn thành 6 tín chỉ theo quy định của chương trình học chế tín chỉ.
- Luật Đầu tư (môn học tự chọn, 2 tín chỉ): Đây là một môn học pháp lý chuyên ngành, cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về pháp luật điều chỉnh các hoạt động đầu tư ở Việt Nam.
Nghiên cứu môn học Luật Đầu tư, người học sẽ nắm bắt được những vấn đề cơ bản, bao gồm: một là, hiểu và vận dụng được vào thực tế những quy phạm pháp luật đầu tư, đối với cả hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài; hai là, xây dựng được dự án đầu tư cho một hoạt động đầu tư cụ thể; ba là, đánh giá được về cơ bản những thuận lợi và rủi ro trong quá trình đầu tư đối với các dự án đầu tư có nguồn gốc vốn khác nhau.
Lựa chọn chuyên đề Luật Đầu tư là người học đã trang bị cho mình một khối lượng kiến thức cũng như thông tin thực tế đầy đủ nhằm khẳng định bản thân trong các quan hệ xã hội, pháp luật có liên quan đến hoạt động đầu tư.
- Một số hợp đồng thương mại đặc thù và Kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng thương mại (Môn học tự chọn 3 tín chỉ): Trong nền kinh tế thị trường, việc kí kết các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại diễn ra ngày càng phổ biến và thường xuyên hơn, các loại hợp đồng vừa đa đạng về hình thức lại phức tạp về nội dung. Vì vậy việc cung cấp cho sinh viên đại học Luật, đặc biệt là sinh viên khoa Pháp luật kinh tế, những kiến thức cơ bản về một số loại hợp đồng phổ biến là nhu cầu cấp thiết hiện nay. Môn học gồm 2 phần:
Phần 1: "Một số hợp đồng thương mại đặc thù" cung cấp cho người học những kiến thức chuyên sâu về một số hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như: Hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, hợp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, hợp đồng thương mại điện tử, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng thành lập công ty, hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyển...
Phần 2:"Kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng thương mại" cung cấp cho người học những kiến thức lý thuyết và thực hành về đàm phán hợp đồng thương mại và soạn thảo hợp đồng thương mại
- Pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại (Môn học tự chọn 2 tín chỉ): được cơ cấu thành 04 vấn đề lớn, bao gồm: (1) Quản lý Nhà nước về chất lượng và giá hàng hóa, dịch vụ; (2) Quản lý Nhà nước về điều kiện kinh doanh đối với một số lĩnh vực kinh doanh kinh doanh đặc biệt; (3) Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực về giá; (4) Quản lý Nhà nước đối thông qua các biện pháp bảo đảm.Bộ môn đã tổ chức được nhiều cuộc hội thảo khoa học, như đổi mới nội dung chương trình môn học Luật Kinh tế (tháng 11/2003); nội dung giảng dạy học phần Pháp luật về thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ (12/1003); nội dung giảng dạy một số hợp đồng chủ yếu trong thương mại (2005); pháp luật về mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch (2008)...
Bộ môn đã chủ trì và thực hiện được 05 đề tài khoa học cấp trường và biên soạn được 06 bộ giáo trình, đồng thời thực hiện 01 số tạp chí chuyên đề "Hợp đồng thương mại" Tạp chí Luật học 11/2008. Các giảng viên bộ môn còn tham gia đề tài cấp bộ, viết bài tạp chí, viết sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách hỏi đáp... đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nghiên cứu và học tập của sinh viên.
Bộ môn Luật Lao động
- Văn phòng bộ môn: Phòng 506 nhà K4 - Điện thoại: 04.37738318
|
Trưởng bộ môn:
PGS-TS. Nguyễn Hữu Chí
|
Phó trưởng bộ môn:
TS. Trần Thị Thuý Lâm
|
Bộ môn Luật Lao động được thành lập từ năm 1979 cùng với sự ra đời, thành lập Trường Đại học pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội) và khoa Pháp luật kinh tế.
Hiện tại, bộ môn có 08 giảng viên (01 giảng viên tập sự, 04 giảng viên chính), trong đó có 02 Phó giáo sư – tiến sĩ, 03 tiến sĩ, 01 thạc sỹ (đang làm nghiên cứu sinh), 02 cử nhân (trong đó có một học viên cao học). Ngoài ra, bộ môn còn mời 03 giảng viên là tiến sĩ luật tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đa số giảng viên của bộ môn đều là những giáo viên có kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy lâu năm không chỉ trong trường (đào tạo các hệ chính quy, vừa làm – vừa học, trung cấp và sau đại học) mà còn tham gia đào tạo nhiều loại hình đào tạo khác (đào tạo chức danh tư pháp, tập huấn, bồi dưỡng…). Ngoài ra, còn tham gia các hoạt động thực tiễn như: tranh tụng, tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, xây dựng pháp luật …
1. Về hoạt động nghiên cứu khoa học
Bộ môn đã chủ trì và thực hiện được 07 đề tài khoa học cấp trường, 01 đề tài khoa học cấp bộ; tổ chức được một số cuộc hội thảo, như "Một số vấn đề về thể chế hỗ trợ thị trường lao động"/cấp khoa/năm 2005, Đánh giá 14 năm thực hiện Bộ Luật lao động và phương hướng hoàn thiện Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung vào năm 2011"/Cấp trường/6.2009...đồng thời đóng góp ý kiến cho nhiều dự án luật như: Bộ luật lao động, Luật công đoàn sửa đổi, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bình đẳng giới... Ngoài ra, các giảng viên của bộ môn còn tham gia nhiều công trình nghiên cứu khoa học, viết bài nghiên cứu cho tạp chí chuyên ngành. Hiện bộ môn đang triển khai xây dựng các học phần mới phục vụ chương trình đào tạo, như: Pháp luật quản trị nhân sự trong doanh nghiệp…
2. Về hoạt động giảng dạy
Bộ môn đảm nhiệm giảng dạy các môn học:
- Luật lao động (môn học bắt buộc: 5 tín chỉ với mã ngành Luật kinh tế; 3 tín chỉ với mã ngành Luật học, Luật thương mại quốc tế): Luật lao động là môn học nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, ban hành, thực thi các định chế về quan hệ lao động và các vấn đề thuộc lĩnh vực lao động - xã hội. Bên cạnh các vấn đề lý luận chung, các nội dung pháp luật được nghiên cứu chủ yếu bao gồm: cơ chế ba bên, quản lý nhà nước về lao động, việc làm, học nghề, quyền công đoàn và vấn đề đại diện lao động, quan hệ hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, các điều kiện lao động, quản lý lao động trong doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp lao động, đình công. Song song với các vấn đề pháp lý của Việt Nam, môn học Luật Lao động còn bao hàm các vấn đề lao động quốc tế (trong khuôn khổ các quy tắc pháp lý lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO) và khu vực.
- Luật an sinh xã hội (môn học 3 tín chỉ, bắt buộc với mã ngành Luật kinh tế; môn học tự chọn với mã ngành Luật học, Luật thương mại quốc tế): Luật An sinh xã hội là môn học nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng, ban hành, thực thi các quy định về an sinh xã hội. Các nội dung pháp luật được nghiên cứu chủ yếu bao gồm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội (bảo trợ xã hội), giải quyết tranh chấp an sinh xã hội. Song song với việc nghiên cứu các vấn đề pháp lí của Việt Nam, môn học luật An sinh xã hội còn nghiên cứu ở một mức độ nhất định quan điểm, quy định của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về an sinh xã hội.
- Tư vấn hợp đồng trong lĩnh vực lao động (môn học tự chọn; 2 tín chỉ)Tư vấn hợp đồng trong lĩnh vực lao động là môn học về kỹ năng tư vấn các loại hợp đồng trong lĩnh vực lao động. Các loại hợp đồng được nghiên cứu tư vấn chủ yếu trong môn học này là hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề và các hợp đồng về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Môn học không lặp lại những vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về các loại hợp đồng (vì đã được nghiên cứu trong luật lao động) mà là trang bị, cung cấp cho người học những kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm thực tế trong việc tư vấn các loại hợp đồng. Môn học không chỉ đơn thuần những bài giảng về lý thuyết mà còn có cả những tình huống thực tiễn giúp người học có những nhận thức cơ bản về kỹ năng của nhà tư vấn các hợp đồng thông dụng trong lĩnh vực lao động.
- Kỹ năng giải quyết các tranh chấp lao động (môn học: tự chọn; 2 tín chỉ)Kỹ năng giải quyết các tranh chấp lao động là môn học cung cấp các kỹ năng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài và giải quyết tại Tòa án nhân dân. Môn học cung cấp các kỹ năng đặc thù trong việc hòa giải, trọng tài và giải quyết các tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân ở các giai đoạn tố tụng như thụ lý vụ án lao động, nghiên cứu hồ sơ vụ án lao động, phiên tòa lao động sơ thẩm, viết bản án lao động, phúc thẩm và giám đốc thẩm vụ án lao động. Thông qua môn học này, người học có những kỹ năng mang tính nghề nghiệp về giải quyết tranh chấp lao động và có khả năng vận dụng vào thực tế
- Luật Người khuyết tật Việt Nam (môn học: tự chọn; 3 tín chỉ)Luật người khuyết tật Việt Nam là môn học nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, ban hành, thực thi các định chế pháp lý về người khuyết tật. Các nội dung pháp luật được nghiên cứu chủ yếu bao gồm: Những vấn đề lý luận chung về người khuyết tật và luật người khuyết tật (khái niệm, quan hệ xã hội do luật người khuyết tật điều chỉnh, các nguyên tắc, mối quan hệ giữa luật người khuyết tật và một số ngành luật khác...); Pháp luật quốc tế về người khuyết tật; Các chế độ pháp lý đối với người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam (chăm sóc sức khoẻ; giáo dục, dạy nghề và việc làm; hoạt động xã hội; bảo trợ xã hội với người khuyết tật, ...); Trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng; các biện pháp đảm bảo quyền đối với người khuyết tật. Ngoài các giảng viên, môn học còn có sự tham gia trực tiếp của những người khuyết tật với tư cách là các báo cáo viên với mục đích tăng tính thực tiễn của môn học. Thông qua môn học này người học có những hiểu biết cơ bản về người khuyết tật và pháp luật người khuyết tật. Từ đó có thể tư vấn cho các đối tượng là tổ chức, cá nhân về các vấn đề thông dụng của pháp luật người khuyết tật; tham gia giải quyết các vụ việc thông thường trong lĩnh vực pháp luật người khuyết tật; tham gia các hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật người khuyết tật.
Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàngPhòng 505/K4 - 04.37738316
|
- Trưởng bộ môn:
TS. Phạm Thị Giang Thu
|
- Phó bộ môn
TS. Nguyễn Minh Hằng
|
Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàng được thành lập tháng 11/1984 trên cơ sở tách từ Bộ môn Luật kinh tế. Từ chỗ chỉ có một môn học chung là Luật tài chính ngân hàng, cho đến nay, Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàng đã và đang đảm nhiệm giảng dạy 01 môn học bắt buộc và 05 môn học tự chọn. Mỗi môn học sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức nền tảng thiết thực nhất để sử dụng cho công việc của mình sau này. Cụ thể:
- Luật tài chính (bắt buộc, 3 tín chỉ): Môn học này cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài chính công và pháp luật về tài chính công như NSNN và pháp luật về NSNN, thuế và pháp luật về thuế... Qua đó, người học có thể (i) nắm được các khái niệm cơ bản của lĩnh vực tài chính công và pháp luật tài chính công như NSNN và pháp luật NSNN; thuế và pháp luật thuế; nhận diện được bản chất, đặc thù của NSNN cũng như bản chất, đặc thù của mỗi loại thuế trong hệ thống thuế quốc gia; (ii) nắm được cơ sở khoa học của việc ban hành các quy phạm pháp luật về NSNN và thuế; nội dung pháp lí của các quy định pháp luật về NSNN và pháp luật thuế; (iii) đưa ra được các quan điểm đánh giá, bình luận về tính hợp lí và những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về NSNN và thuế. Đây là những kiến thức hết sức cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách, những người làm việc tại các sở, ban, ngành liên quan tới việc sử dụng NSNN và cả đối những người làm việc trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế.-
Luật ngân hàng (tự chọn, 3 tín chỉ): Môn học này cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về địa vị pháp lí của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh ngân hàng, nội dung pháp lí chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng và quản lí nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Qua đó, người học có thể (i) Hiểu và nắm được một số khái niệm cơ bản trong lĩnh vực pháp luật ngân hàng; các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong khoa học luật ngân hàng; (ii) nhận diện được bản chất, đặc thù của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; (iii) Nắm được nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh trong lĩnh vực ngân hàng. Là môn học khá gần gũi với thực tiễn, nên trong quá trình giảng dạy môn học này các giảng viên của bộ môn còn trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về thực tiễn hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, trong quá trình học người học còn được rèn luyện các kỹ năng như: (i) Kĩ năng tìm kiếm và sử dụng các quy định của pháp luật ngân hàng để giải quyết những tình huống cơ bản, điển hình trong lĩnh vực ngân hàng; (ii) Kĩ năng lập luận, góp ý xây dựng pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; (iii) Kỹ năng tư vấn pháp luật cho các chủ thể kinh doanh ngân hàng và các đối tượng khác để bảo vệ tốt quyền lợi của mình khi tham gia vào quan hệ dịch vụ ngân hàng.
- Luật chứng khoán (tự chọn, 3 tín chỉ): Môn học này cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về địa vị pháp lí của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán, nội dung pháp lí chủ yếu trong kinh doanh chứng khoán và quản lí nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán. Qua đó, người học có thể: (i) Hiểu và nắm được một số khái niệm cơ bản trong lĩnh vực pháp luật chứng khoán; các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong khoa học luật chứng khoán; (ii) Nhận diện được bản chất, đặc thù của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán; (iii) Nắm được nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh trong lĩnh vực chứng khoán; (iv) Có được những kiến thức cơ bản về thực tiễn hoạt động chứng khoán. Đồng thời người học còn được rèn luyện các kỹ năng như (i) kĩ năng tìm kiếm và sử dụng các quy định của pháp luật chứng khoán để giải quyết những tình huống cơ bản, điển hình trong lĩnh vực chứng khoán; (ii) kĩ năng lập luận, góp ý xây dựng pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán; (iii) kĩ năng tư vấn pháp luật cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán và các đối tượng khác để bảo vệ tốt quyền lợi của mình khi tham gia vào thị trường chứng khoán. - Luật kinh doanh bảo hiểm (tự chọn, 2 tín chỉ): Luật kinh doanh bảo hiểm là môn học quan trọng thuộc chuyên ngành pháp luật kinh tế mà sinh viên luật cần nắm vững. Môn học cung cấp các kiến thức pháp luật cơ bản về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, một lĩnh vực hẹp của chuyên ngành luật tài chính ngân hàng. Sinh viên sau khi học môn học Luật kinh doanh bảo hiểm có thể (i) Hiểu và nắm được các khái niệm cơ bản trong lĩnh vực pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; (ii) Nhận diện được bản chất, đặc thù của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; (iii) Nắm được nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; (iv) Có được những kiến thức cơ bản về thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam và trên thế giới; (v) Có khả năng lập luận, đánh giá pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; (vi) Có kỹ năng tìm kiếm và sử dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những vụ việc thực tế liên quan tới lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
- Pháp luật tài chính doanh nghiệp (tự chọn, 2 tín chỉ): là môn học chuyên ngành cung cấp cho người học kiến thức có tính chất chuyên sâu về sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ tài chính doanh nghiệp, tập trung vào các nội dung về tạo lập và sử dụng vốn, quản lý tài sản, doanh thu, chi phí, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Với những kiến thức được trang bị người học có thể đưa ra được các đề xuất thích hợp tới người quản lý công ty liên quan đến các vấn đề nâng cao tính hiệu quả trong việc kiểm soát đồng vốn, quản lý tài sản, doanh thu chi phí và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp...
- Kỹ năng tư vấn pháp luật thuế (tự chọn, 2 tín chỉ): Kỹ năng tư vấn pháp luật thuế là môn học cung cấp cho người học về kiến thức chung của hoạt động tư vấn pháp luật thuế và hướng dẫn các kỹ năng cơ bản trong hoạt động tư vấn pháp luật thuế cho doanh nghiệp và cá nhân. Các kỹ năng này được thực hành trên cơ sở tuân thủ các qui định của pháp luật và tối ưu các khoản tiết kiệm thuế. Sinh viên sau khi theo học môn Kỹ năng tư vấn pháp luật thuế có khả năng tìm kiếm và sử dụng các quy định của pháp luật thuế để giải quyết những tình huống cơ bản, điển hình trong lĩnh vực thuế; khả năng tư vấn pháp luật thuế cho các chủ thể trên cơ sở tuân thủ các qui định pháp luật và đạt được các hiệu quả tài chính.
Với những kỹ năng được rèn luyện qua từng môn học, sinh viên sau khi học các môn học của Bộ môn Luật tài chính - ngân hàng có thể tự tin khi đảm nhận vai trò là cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ kinh doanh trong các cơ quan kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, sở tài chính, cục hải quan, sở kế hoạch - đầu tư…Hoặc làm chuyên viên ở các cơ quan cấp huyện như ủy ban nhân dân, phòng kinh tế, phòng thuế. Hoặc cũng có thể công tác ở các tòa án kinh tế, viện kiểm sát hoặc trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đặc biệt, những kiến thức nền tảng liên quan đến việc quản lý và sử dụng dòng vốn, đến những chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mà sinh viên được tiếp nhận thông qua quá trình theo học các môn học của bộ môn luật tài chính – ngân hàng chính là tiền đề để giúp sinh viên có cơ hội trở thành các nhà quản lý doanh nghiệp trong tương lai. Nhiều sinh viên đã từng theo học các môn học của bộ môn đã trở thành các giám đốc tài chính, các CEO của các doanh nghiệp hàng đầu ở Việt Nam.
Đội ngũ giảng viên cơ hữu: Bộ môn Luật tài chính – ngân hàng hiện có 09 giảng viên, trong đó có 02 tiến sỹ, giảng viên chính; 05 thạc sỹ (trong đó có 01 nghiên cứu sinh), 02 cử nhân (đang là học viên cao học). Ngoài ra, Bộ môn còn được sự phối hợp, cộng tác thường xuyên của các giảng viên chính lâu năm đã nghỉ hưu, các cựu giảng viên là tiến sỹ đang làm công tác thực tiễn tại các cơ quan quản lý, doanh nghiệp... Nguyên lý giảng dạy của Bộ môn là: Truyền đạt kiến thức – rèn luyện kỹ năng- học chủ động - vận dụng hiệu quả. Với đội ngũ giảng viên chuyên ngành giàu kinh nghiệm, Bộ môn luật tài chính – ngân hàng tin rằng sẽ đáp ứng nhu cầu của các sinh viên lựa chọn các môn học của bộ môn, giúp sinh viên có nền tảng để phát triển nghề nghiệp từ những vị trí khởi đầu đến các cấp quản lý cao hơn. Liên hệ: Bộ môn Luật tài chính – ngân hàng – Trường Đại học Luật Hà Nội - Điện thoại : 0437738316 . Email:
Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
Bộ môn Luật Đất đai
Phòng 504/K4 - 04.37738317
|
- Trưởng bộ môn:
PGS. TS. Nguyễn Quang Tuyến
|
- Phó bộ môn
TS. GVC Nguyễn Thị Dung
|
Bộ môn Luật đất đai được thành lập từ năm 1986.
Những người phụ trách Bộ môn qua các thời kỳ là thầy Trần Quang Huy (Trưởng bộ môn), cô Vũ Thu Hạnh (Phó trưởng bộ môn); hiện nay là thầy Nguyễn Quang Tuyến (Trưởng bộ môn).
Bộ môn hiện có 06 giảng viên (2 tiến sĩ, 3 thạc sỹ- nghiên cứu sinh, 1 cử nhân- học viên cao học).
Bộ môn giảng dạy Luật đất đai cho tất cả các hệ đào tạo trong trường: được giảng dạy theo hinh thức tín chỉ chuyên đề trong thời gian 05 tuần; cụ thể: 30 tiết (02 tín chỉ). Môn Luật đất đai cung cấp cho sinh viên những kiến thức khoa học pháp lý về chế độ sở hữu đất đai, chế độ sử dụng các loại đất, chế độ quản lý nhà nước về đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
Từ năm 2001, môn Pháp luật về kinh doanh bất động sản (trước đây gọi là pháp luật về quyền sử dụng đất) được đưa vào giảng dạy cho sinh viên hệ chính quy thuộc Khoa Pháp luật Kinh tế dưới hình thức chuyên đề tự chọn, với thời lượng 30 tiết. Theo hình thức đào tạo tín chỉ, môn pháp luật kinh doanh bất động sản được đưa vào cho sinh viên lựa chọn và giảng dạy theo hình thức tín chỉ chuyên đề trong 04 tuần với thời gian 30 tiết (02 tín chỉ). Môn Pháp luật kinh doanh bất động sản trang bị cho sinh viên các kiến thức pháp lý về kinh doanh bất động sản; kinh doanh dịch vụ bất động sản; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bất động sản; các loại hợp đồng trong kinh doanh bất động sản; quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh bất động sản và chủ thể kinh doanh dịch vụ bất động sản v.v;
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực trong tiến trình đổi mới và hội nhập, Bộ môn đã xây dựng thêm một số chuyên đề giảng dạy mới, dự kiến để sinh viên tự chọn, bao gồm:
- Pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới (Dự kiến 03 tín chỉ). Chuyên đề này giới thiệu hệ thống pháp luật đất đai của các nước trong khu vực Đông Nam Á và pháp luật đất đai của một số nước phát triển như Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malayxia v.v đặt trong mối quan hệ so sánh với pháp luật đất đai của Việt Nam; đồng thời đưa ra những gợi mở cho quá trình hoàn thiện pháp luật đất đai của nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực;
- Pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng (dự kiến 02 tín chỉ). Chuyên đề này trang bị cho sinh viên kiến thức pháp lý về bồi thường, giải phóng mặt bằng; các chính sách về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo đời sống và sản xuất cho người dân thông qua việc phân tích, bình luận một số tình huống thực tế điển hình...;
- Kỹ năng, tư vấn pháp luật đất đai (Dự kiến 02 tín chỉ). Chuyên đề này cung cấp cho sinh viên những kỹ năng cơ bản và cần thiết phục vụ cho tư vấn pháp luật đất đai. Đây là một trong những yếu tố cần thiết để sinh viên sau khi tốt nghiệp cử nhân luật có thể nhanh chóng thích nghi với công việc chuyên môn tại các công ty tư vấn luật, các văn phòng luật sư; trung tâm trợ giúp pháp lý và các sàn giao dịch bất động sản, trung tâm môi giới nhà đất...;
- Kỹ năng tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai (dự kiến 02 tín chỉ). Thông qua việc xây dựng và giải quyết những loại hình tranh chấp đất đai phổ biến và điển hình, Chuyên đề trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết trong việc tư vấn, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; giải quyết tranh chấp đất đai như: kỹ năng về tiêp xúc khách hàng, kỹ năng phân tích, xử lý thông tin; kỹ năng ghi chép; kỹ năng sưu tầm, lựa chọn các văn bản quy phạm pháp luật thích hợp để giải quyết; kỹ năng hòa giải; kỹ năng thuyệt phục, kỹ năng lập biên bản, kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai...Bộ môn đã thực hiện 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn pháp luật kinh doanh về bất động sản" và được Hội đồng khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội nghiệm thu; phối hợp với Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) hoàn thành 01 đề tài nghiên cứu khoa học tương đương cấp trường "Các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo tính minh bạch của thị trường bất động sản Việt Nam". Các thành viên của Bộ môn đã có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí luật học có uy tín trong nước, đăng trên tạp chí luật xuất bản bằng tiếng Anh; tham gia đóng góp ý kiến cho các dự thảo Luật đất đai, dự thảo Luật kinh doanh bất động sản, dự thảo Luật đăng ký giao dịch bất động sản và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tham gia viết bài cho các hội thảo khoa học trong và ngoài trường; tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai, pháp luật kinh doanh bất động sản cho người dân và các doanh nghiệp.Bộ môn đã phối hợp với Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), Bộ Tài nguyên và Môi trường... tổ chức nhiều hội thảo khoa học nhằm đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.Bên cạnh việc biên soạn Giáo trình Luật đất đai, Bộ môn đã biên soạn và xuất bản sách chuyên khảo pháp luật về thị trường bất động sản nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức pháp lý về thị trường Bất động sản, những kiến thức pháp lý về kinh doanh bất động sản, nội dung các loại hợp đồng trong kinh doanh bất động sản...Hiện bộ môn đang biên soạn tập bài giảng pháp luật về kinh doanh bất động sản làm tài liệu học tập, nghiên cứu cho sinh viên.
Bộ môn Luật Môi trường
Phòng 106/K4 - 04.38352548
|
- Trưởng bộ môn:
TS. Nguyễn Văn Phương
|
- Phó trưởng bộ môn:
TS. Vũ Thị Duyên Thuỷ
|
Môn học Luật môi trường được đưa vào giảng dạy tại Trường đại học luật Hà nội từ năm 1993, do bộ môn Luật đất đai- môi trường đảm nhiệm. Tháng 10 năm 1996, Bộ môn Luật môi trường được thành lập trên cơ sở tách bộ môn Luật đất đai- môi trường thành 2 bộ môn: Luật đất đai và Luật môi trường.
Những người đã và đang phụ trách Bộ môn: cô Vũ Thu Hạnh (Trưởng bộ môn, 1996 – 20..) và hiện nay là thầy Nguyễn Văn Phương (Trưởng bộ môn), cô Vũ Thị Duyên Thuỷ (Phó trưởng bộ môn).
Bộ môn có 06 giảng viên, trong đó có 03 tiến sỹ (02 giảng viên chính), 02 thạc sỹ (01 nghiên cứu sinh) và 01 cử nhân.Bộ môn đảm nhiệm việc giảng dạy các học phần sau:
- Luật môi trường cho các hệ đào tạo trong trường (bắt buộc, bậc đại học 45 tiết/03 đơn vị học trình/02 tín chỉ; bậc trung học 30 tiết). Từ khoá 33 môn học này sẽ là môn tự chọn/03 tín chỉ.
Luật môi trường là môn học thuộc chuyên ngành pháp luật kinh tế, nghiên cứu các vấn đề cơ bản về bảo vệ môi trường bằng pháp luật. Nội dung trước tiên mà môn học này đề cập là một số vấn đề mang tính lí luận chung về môi trường, bảo vệ môi trường và luật môi trường. Tiếp đó, môn học nghiên cứu các nội dung về đánh giá môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học như kiểm soát ô nhiễm không khí, kiểm soát ô nhiễm đất, kiểm soát ô nhiễm nước, bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học...; Ngoài ra, môn học còn đề cập các khía cạnh của việc thực thi các công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như cơ chế giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong lĩnh vực này.
- Pháp luật môi trường trong kinh doanh(môn học tự chọn, 02 tín chỉ) - Dự kiến bắt đầu giảng dạy: năm học 2012- 2013 Pháp luật môi trường trong kinh doanh là một môn học thuộc chuyên ngành pháp luật kinh tế, nghiên cứu về bảo vệ môi trường bằng pháp luật trong hoạt động kinh doanh. Nội dung đầu tiên được đề cập là các vấn đề lý luận về pháp luật môi trường trong kinh doanh. Sau đó là những nội dung liên quan đến các công cụ kinh tế và vai trò của nó đối với hoạt động quản lý kinh doanh. Tiếp đó, môn học nghiên cứu các vấn đề của pháp luật môi trường trong các lĩnh vực kinh doanh cụ thể như hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, xuất nhập khẩu, trồng trọt, chăn nuôi, du lịch, dịch vụ...
- Kỹ năng giải quyết các xung đột trong lĩnh vực môi trường (môn học tự chọn, 02 tín chỉ) - Dự kiến bắt đầu giảng dạy: năm học 2013- 2014.
Kỹ năng giải quyết các xung đột trong lĩnh vực môi trường trang bị các kiến thức về nhận dạng các loại xung đột trong lĩnh vực môi trường và kỹ năng giải quyết các xung đột này, như xung đột trong hình thành và thực thi chính sách, trong đánh giá môi trường, trong giải quyết tranh chấp môi trường....Các thành viên của Bộ môn đã chủ trì và thực hiện 04 đề tài khoa học cấp trường; 02 đề tài khoa học cấp bộ và thực hiện nhiều nhiệm vụ về bảo vệ môi trường do Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì. Một số thành viên tham gia soạn thảo, phản biện các dự thảo Luật bảo vệ môi trường 2005, Luật đa dạng sinh học 2008, Luật thuế môi trường...Các thành viên của bộ môn là cộng tác viên của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, các Viện nghiên cứu, giảng viên kiêm nhiệm của các cơ sở đào tạo khác và tham gia Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và quốc tế (01 người là Ủy viên ban chấp hành trung ương Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt nam ; 01 người là thành viên Uỷ ban Luật Môi trường (viết tắt là CEL) thuộc Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường quốc tế (viết tắt là IUCN).
Trung tâm Pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Phòng 503/K4 - 04.37738319
|
- Giám đốc trung tâm:
TS. Nguyễn Thị Vân Anh
|
- Phó giám đốc trung tâm
ThS. GVC. Hoàng Minh Chiến
|
Cạnh tranh vốn là “hiến pháp” của một nền kinh tế, là động lực để phát triển kinh tế. Tuy nhiên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh càng trở nên gay gắt và đòi hỏi cần được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật đặc thù. Trước đây, Luật Cạnh tranh và chống độc quyền vốn là một trong những nội dung quan trọng được giảng dạy trong chương trình môn học “Luật thương mại” thuộc Khoa pháp luật kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội. Ý thức được tầm quan trọng cũng như mong muốn nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, ngày 17 tháng 3 năm 2009, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội đã kí Quyết định số 600/QĐ-TCCB thành lập Trung tâm Pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trung tâm có nhiệm vụ giảng dạy pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng đồng thời nghiên cứu và phối hợp với các đơn vị khác ở trong và ngoài trường để tổ chức hội thảo và thực hiện các đề tài khoa học; tổ chức thu thập, phân tích, hệ thống hoá thông tin tư liệu chuyên ngành phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy và học tập các chuyên ngành thuộc khoa pháp luật kinh tế. Mặc dù mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động nhưng Trung tâm Luật Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đạt được những kết quả khả quan ban đầu.
* Về công tác giảng dạy:
- Giảng dạy môn học Luật cạnh tranh (từ 2009 - 2011): Môn học tự chọn cho sinh viên chính quy thuộc khoa PLKT, thời gian 20 tiết (1 đơn vị học trình).
- Giảng dạy môn học Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (từ 2011): Môn học tự chọn, 3 tín chỉ dành cho cả sinh viên hệ chính quy và học viên hệ vừa làm vừa học.
- Dự kiến giảng dạy môn học Luật Cạnh tranh 3 tín chỉ, môn học bắt buộc cho sinh viên học ngành Luật kinh tế và môn học Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2 tín chỉ, môn học tự chọn.
* Về công tác nghiên cứu khoa học, liên tục trong các năm từ 2009, Trung tâm đã tổ chức thành công các Hội thảo bao gồm: Hội thảo, "Kinh nghiệm dạy và học theo học chế tín chỉ các môn học thuộc khoa PLKT" vào tháng 10/2009, hội thảo “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng hướng hoàn thiện” vào 9/2010, hội thảo “Thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” vào 9/2012. Trung tâm cũng đã bảo vệ xuất sắc (01) một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về “Vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” năm 2011 do TS. Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm đề tài và hiện đang nghiên cứu (01) đề tài khoa học cấp trường “Nghiên cứu pháp luật về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm đề tài và (01) một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm đề tài.
* Đội ngũ giảng viên cơ hữu: Hiện tại (năm 2012), Trung tâm Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có 04 giảng viên. Ngoài 02 giảng viên mới đã và đang được đào tạo thạc sỹ luật học, lãnh đạo Trung tâm đều là những giảng viên chính, có trên hai mươi năm kinh nghiệm giảng dạy, có uy tín và trình độ. Đặc biệt, giám đốc trung tâm - TS. Nguyễn Thị Vân Anh là người đã có kinh nghiệm giảng dạy và quản lý nhiều năm tại Bộ môn Luật thương mại.
Phương châm làm việc của Trung tâm Luật Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nhiệt huyết, say mê, sáng tạo. Trung tâm luôn mong muốn mang lại cho sinh viên niềm yêu thích không chỉ đối với môn học mà còn khơi dậy khả năng, niềm đam mê của họ với khoa học luật. Điều này đã khiến Luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng từng được coi là môn học tự chọn “hấp dẫn” và thu hút số lượng sinh viên đăng kí nhiều nhất trong Trường.
* Liên hệ: Trung tâm Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Trường Đại học Luật Hà Nội - Điện thoại: 04.37738319; Email:
Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
Trợ lý khoa
Phòng 303/K4 - 04.37730239
|
Chuyên viên
Trần Thị Chính
|
Chuyên viên
Nguyễn Thị Minh Hà
|
Trợ lý khoa đảm nhiệm những công việc sau đây:
1. Đối với hệ chính quy
- Theo dõi nắm kế hoạch, thời gian biểu của từng môn học theo học kỳ, năm học;
- Theo dõi, quản lý sinh viên thuộc khoa về giờ giấc học tập;
- Quản lý danh sách kiểm tra thường xuyên các môn học của khoa cho sinh viên toàn trường; nhập điểm thường xuyên theo môn học của Khoa;
- Giúp BCN khoa tổ chức tốt kỳ thi kết thúc học phần theo kỳ lần 1, lần 2... Tổng hợp, in sao bảng điểm thi kết thúc học phần của từng môn chuyển cho bộ phận quản lý đào tạo;
- Quản lý, lưu giữ toàn bộ hệ thống điểm của khoa;
- Đánh giá điểm rèn luyện sinh viên theo từng học kỳ (thống kê, tổng hợp báo cáo Hội đồng khoa);
- Theo dõi, đối chiếu điểm từng kỳ của sinh khoa để xét học bổng, ngừng học, thôi học, tiếp nhận sinh viên vào lớp bổ sung theo năm học;
- Chuẩn bị tài liệu cho việc xét điểm viết khoá luận tốt nghiệp; lập danh sách sinh viên viết khoá luận tốt nghiệp các môn thuộc khoa;
- Quản lý sinh viên thực tập theo đoàn; thu nhận chuyên đề thực tập tốt nghiệp của sinh viên theo đoàn do khoa quản lý; - Quản lý điểm khoá luận, điểm chuyên đề thực tập;
- Đối chiếu điểm toàn khoá học, thống kê, tổng hợp số sinh viên của khoa được dự thi tốt nghiệp, thống kê số tốt nghiệp, phân loại, đề nghị thi đua của của các lớp do khoa quản lý.
- Kết hợp cùng phòng quản lý sinh viên, giáo viên chủ nhiệm lớp hàng năm tổng kết thi đua, chỉ đạo việc tổ chức đại hội lớp, chi đoàn hết nhiệm kỳ.
- Quản lý thư viện của khoa...
2. Đối với hệ tại chức
- Theo dõi kế hoạch giảng dạy hàng tháng của từng bộ môn trong khoa;
- Lưu giữ hệ thống điểm toàn bộ các môn của khoa;
- Cùng ban thư ký của khoa nhận bài, làm phách, giao bài cho các bộ môn chấm (lên điểm, ghép phách, giao bảng điểm tại chức cho các bộ môn);
- Trực tiếp theo dõi việc học tập, đảm bảo các điều kiện học tập của học viên các lớp tại chức do khoa quản lý.
3. Các công việc khác
- Nhận công văn giấy tờ lưu giữ vào sổ
- Quản lý cơ sở vật chất của khoa
Trực hành chính để xử lý các công việc liên quan đến 8h theo ngày công lao động
|